Magie oxit, thường được gọi là magnesia hoặc đơn giản là magie oxit, là một oxit kim loại kiềm thổ cổ điển với công thức hóa học MgO. Chất bột màu trắng này có nhiệt độ nóng chảy 2852°C, nhiệt độ sôi 3600°C và tỷ trọng tương đối 3,58 (25°C). Nó thể hiện khả năng hòa tan trong dung dịch axit và dung dịch muối amoni, đồng thời phản ứng dần với nước để tạo ra magie hydroxit. Khi được đưa vào dung dịch nước carbon dioxide, nó tạo thành magie bicarbonat. Hợp chất này có xu hướng hấp thụ độ ẩm và carbon dioxide từ khí quyển theo thời gian và giải phóng khói kích thích khi đun nóng.

Các nguồn chính để sản xuất magie oxit bao gồm magnesit (MgCO₃), dolomit (MgCO₃·CaCO₃) và nước biển. Quy trình sản xuất bao gồm phân hủy nhiệt magnesit hoặc dolomit. Ngoài ra, nước biển được xử lý bằng canxi hydroxit tạo ra kết tủa magie hydroxit, sau đó được nung để thu được magie oxit. Một phương pháp sản xuất khác sử dụng nước muối magie clorua thu được từ nước biển hoặc nước muối sau khi chiết xuất brom; thêm natri hydroxit hoặc natri carbonat tạo ra magie hydroxit hoặc magie carbonat kết tủa, sau đó được đốt để tạo ra magie oxit. Hiện nay, Trung Quốc chủ yếu sử dụng magnesit, dolomit, nước muối hoặc khối nước muối làm nguyên liệus.

Trong tất cả các hợp chất magie, magie oxit có sản lượng cao nhất, chiếm khoảng ba phần tư tổng sản phẩm công nghiệp magie. Magie oxit được sản xuất dưới 900°C được phân loại là magie oxit nhẹ, đặc trưng bởi mật độ thấp, diện tích bề mặt riêng lớn và khả năng hấp phụ đáng chú ý. Dạng này phục vụ nhiều mục đích: làm chất xúc tác, phụ gia cao su để tăng cường tính chất và thành phần của xi măng magie khi trộn với dung dịch magie clorua. Nó hoạt động như một chất chống cháy trong vật liệu xây dựng, thuốc kháng axit và thuốc nhuận tràng trong ứng dụng y tế (đặc biệt cho chứng tăng axit và loét dạ dày/tá tràng, thường kết hợp với canxi carbonat gây táo bón), và như một phụ gia trong thức ăn chăn nuôi và phân bón thực vật.

Magie oxit nhẹ được sản xuất trong khoảng 950-1050°C có mật độ lớn hơn và phân bố kích thước hạt cụ thể, cho thấy khả năng tương thích với nước được cải thiện. Biến thể này phục vụ như một chất tách cho thép silicon, ngăn ngừa thiêu kết trong quá trình xử lý nhiệt độ cao bằng cách phản ứng với silicon dioxide bề mặt để tạo thành lớp magie silicat. Magie oxit nặng, được sản xuất ở 1500-1800°C, có mật độ cao, diện tích bề mặt riêng tối thiểu, độ ổn định nhiệt đặc biệt, giảm phản ứng hóa học (với khả năng phản ứng axit và tốc độ hydrat hóa thấp hơn), làm cho nó phù hợp cho các ứng dụng chịu lửa nhiệt độ cao, bao gồm sản xuất chén nung chịu lửa và lớp lót lò.